Tiểu khúc Đại nhạc
Hình thức: a
Lễ hội: Tế Nam Giao
Ý nghĩa
• Ngày xưa, Tiểu khúc thường được phối hợp sử dụng ở nhóm 5 bài dùng trong giai đoạn niêm hương của đại lễ Tế Nam Giao, lễ Trai đàn chẩn tế, trong các buổi lễ tiếp sứ thần ngoại giao, lễ Đại Triều, yến tiệc cung đình. Do giai điệu của bài khá dài, tiết tấu khá phức tạp và ít được sử dụng độc lập nên ít có nhạc công thuộc bài này. Vì vậy, trong giai đoạn 1968 - 1994, các nghệ nhân lão thành thường chỉ sử dụng 3 bài Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ và Long ngâm (thay vì 5 bài) để phục vụ công việc trong các đại lễ (do ban nhạc lễ không có đủ số lượng nhạc công thuộc hai bài Long đăng và Tiểu khúc để cùng thực hiện cũng như để đơn giản hóa công việc). Sau khi tìm cách phục hồi lại được bài Long đăng và Tiểu khúc (năm 1994) thì 5 bài bản này mới được các nghệ nhân thực hiện đầy đủ trong giai đoạn Niêm hương của đại lễ Chẩn tế và Bạt độ giải oan và trên sân khấu Huế.
Phân tích nghệ thuật
• Đây là bài cuối cùng trong nhóm hòa tấu 5 bài Ngự (Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long ngâm, Long đăng, Tiểu khúc). Bài gồm có 55 nhịp 2/2 (không kể nhịp lấy đà) được thể hiện với tốc độ hơi nhanh hoặc nhanh. Mỗi nhịp ứng với hai tiếng gõ của cặp phách một, gõ ngay trên các phách của nhịp. Bài thường được diễn tấu với hơi Bắc (hơi Khách). Tính chất bài bản trong sáng, rộn ràng và vui vẻ.
Mô tả trình diễn
• Nhạc cụ: Dàn Tiểu nhạc gồm một số nhạc cụ sau: Tam (3 dây), Tỳ, Nhị, Nguyệt, Sáo. Ngoài ra, dàn Tiểu nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Phách một, Bồng, Tam âm, Trống bản..., trong bộ gõ này có một số nhạc cụ dùng cho cả dàn Đại nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp.
• Nghệ nhân:
- Đàn Nhị: Dương Phúc Long, Hồ Ái
- Đàn Tỳ Bà: Nguyễn Ngọc Hùng
• Bài Tiểu khúc được thể hiện bởi 2 nghệ sỹ Dương Phúc Long (đàn Tam), Hồ Ái (đàn Nhị) và nghệ nhân Nguyễn Ngọc Hùng (Tỳ bà). Phân tích cụ thể các ưu khuyết điểm trong bài bản do các nghệ sỹ và nghệ nhân diễn tấu như sau:
a. Nghệ sỹ Dương Phúc Long thể hiện bài Tiểu khúc đàn Tam gồm 56 nhịp (kể cả nhịp lấy đà) một cách linh hoạt và đúng tốc độ cần thiết nhưng trong đó có một vài điểm sai sót nhỏ.
b. Nghệ sỹ Hồ Ái thể hiện bài Tiểu khúc bằng đàn Nhị gồm 56 nhịp (kể cả nhịp lấy đà). Giai điệu bài bản theo đúng sườn bài xưa ngoại trừ ở hai điểm sau:
- Các chữ nhạc ở phách 3 nhịp 19 và ở hai phách cuối nhịp 20 trong bài là chưa đúng với sườn bài xưa.
c. Nghệ nhân Nguyễn Ngọc Hùng thể hiện bài Tiểu khúc bằng đàn Tỳ bà gồm 56 nhịp (kể cả nhịp lấy đà). Giai điệu bài bản theo đúng sườn bài xưa ngoại trừ ở hai điểm sau:
- Các chữ nhạc ở hai phách cuối hai nhịp 19 và 20 trong bài là chưa đúng với sườn bài xưa.
- Nhìn chung, bài bản đàn thể hiện bởi các nghệ nhân, nghệ sĩ nói trên là đủ nhịp, giai điệu bám sát sườn bài xưa. Vì vậy, nên theo chúng tôi có thể chọn các bài Tiểu khúc của các nghệ sỹ, nghệ nhân nói trên làm các bài bản mẫu trong thời điểm hiện tại.
Lời nhạc
Trong 17 bài Tiểu nhạc thì một số bài có chức năng kép. Có nghĩa là, khi hòa tấu nó là bài bản Tiểu nhạc, khi biểu diễn Ca Huế thính phòng thì nhạc công dùng bài này đệm cho ca sĩ hát. Tiểu khúc là bài bản dùng để hòa tấu.