Tây mai Đại nhạc

Hình thức: a

Lễ hội: Đại yến

Ý nghĩa

• Ngày xưa, Tây mai được phối hợp sử dụng trong 10 Bài bản nói trên khi vua ngự lãm thưởng ngoạn hoặc khi hồi cung sau khi Tế Nam Giao, ngoài ra nó còn được dùng trong các buổi lễ tiếp sứ thần ngoại giao, lễ Thường triều, yến tiệc cung đình. Ngày nay, bài bản này được dùng trong lễ Trai tăng hoặc lúc thỉnh thập loại cô hồn trong lễ Trai đàn chẩn tế, ngoài ra bài bản này còn được hòa tấu trong chương trình Ca Huế (độc lập hoặc phối hợp 10 bài, đôi khi chỉ hòa tấu 8 bài kể từ bài Hồ quảng trở đi).

Phân tích nghệ thuật

• Đây là bài thứ sáu trong 10 Bản Ngự (Thập thủ Liên hoàn, dân gian còn gọi là 10 Bản Tàu). Bài gồm có 23 nhịp C được thể hiện với hơi Bắc (hơi Khách) ở tốc độ hơi nhanh. Mỗi nhịp ứng với một tiếng gõ của cặp phách một, gõ ngay trên phách thứ nhất của nhịp. Tính chất bài bản trong sáng, rộn ràng, pha chút trữ tình.

Mô tả trình diễn

• Nhạc cụ: Dàn Tiểu nhạc gồm một số nhạc cụ sau: Tam (3 dây), Tỳ, Nhị, Nguyệt, Sáo. Ngoài ra, dàn Tiểu nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Phách một, Bồng, Tam âm, Trống bản..., trong bộ gõ này có một số nhạc cụ dùng cho cả dàn Đại nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp. • Nghệ nhân: - Đàn tam: Dương Phúc Long - Đàn Tỳ bà: Nguyễn Ngọc Hùng - Đàn Nguyệt: Nguyễn Đình Vân - Sáo Trúc: Nguyễn Quang Vịnh • Bài Tây mai được thể hiện bởi 2 nghệ sỹ Dương Phúc Long (đàn Tam), Nguyễn Quang Vịnh (Sáo trúc) và nghệ nhân Nguyễn Ngọc Hùng (đàn Tỳ Bà). Qua phân tích từng bài, chúng tôi thấy có những vấn đề sau: a. Nghệ sỹ Dương Phúc Long diễn tấu bài Tây mai bằng đàn Tam một cách lưu loát và hoàn chỉnh. Đường nét giai điệu đảm bảo như ở bài bản xưa và đủ nhịp. Tuy vậy để cho bài bản này được hay hơn và đúng như xưa mỗi khi sử dụng, chúng tôi đề nghị nên chú ý các điểm dưới đây. - Chữ nhạc chính ở đầu phách thứ ba nhịp 16 là chữ Công (ứng với nốt Mi 2), không phải là chữ Xê (nốt Rê 2) như nghệ sỹ đã thể hiện. - Với nét nhạc đi lên ở hai phách cuối nhịp 16, nghệ sỹ đã để lại dấu ấn riêng gây cảm giác rất khó chịu. b. Nghệ sỹ Nguyễn Quang Vịnh đã diễn tấu bài Tây mai bằng Sáo trúc rất tốt và hoàn chỉnh. Đường nét giai điệu lưu loát, đảm bảo giống như sườn giai điệu gốc ở bài bản xưa và có đầy đủ số lượng nhịp cần thiết. c. Nghệ nhân Nguyễn Ngọc Hùng diễn tấu bài Tây mai bằng đàn Tỳ bà một cách lưu loát và hoàn chỉnh. Tuy đường nét giai điệu đủ nhịp như bài bản xưa nhưng theo chúng tôi, tương tự như ở bài Liên hoàn trong bài này nghệ nhân đã sáng tạo một số dấu ấn riêng khi tìm cách tiến hành lưu loát giai điệu bài bản. • Nhìn chung, bài bản đàn thể hiện bởi các nghệ nhân, nghệ sĩ nói trên là đủ nhịp, giai điệu vẫn bám sát sườn bài xưa. Tuy vậy, chúng ta cần chú ý thực hiện đúng các điểm mấu chốt đã được trình bày để chỉnh sửa thay đổi cho các bài bản này được hoàn chỉnh hơn khi muốn sử dụng chúng. Từ đó, theo quan điểm của cá nhân có chuyên môn thực hiện đề tài, chúng tôi chọn các bài Tây mai của các nghệ nhân, nghệ sĩ nói trên làm các bài bản mẫu trong thời điểm hiện tại.

Lời nhạc

Trong 17 bài Tiểu nhạc thì một số bài có chức năng kép. Có nghĩa là, khi hòa tấu nó là bài bản Tiểu nhạc, khi biểu diễn Ca Huế thính phòng thì nhạc công dùng bài này đệm cho ca sĩ hát. Tây mai là bài bản có chức năng kép.