Tẩu mã Đại nhạc

Hình thức: a

Lễ hội: Đại yến

Ý nghĩa

• Ngày xưa, Tẩu mã được phối hợp sử dụng trong 10 Bài bản nói trên khi vua ngự lãm thưởng ngoạn hoặc khi hồi cung sau khi Tế Nam Giao. Ngoài ra, nó còn được dùng trong các buổi lễ tiếp sứ thần ngoại giao, lễ Thường triều, yến tiệc cung đình. Ngày nay, bài bản này được kết hợp với các bài bản khác dùng trong lễ Trai tăng hoặc lúc thỉnh thập loại cô hồn trong lễ Trai đàn chẩn tế, ngoài ra bài bản này còn được hòa tấu trong Ca Huế (độc lập hoặc phối hợp 10 bài, đôi khi chỉ hòa tấu 8 bài kể từ bài Hồ quảng trở đi). • Một đặc điểm của bài Tẩu mã nhạc lễ là giai điệu ở sáp đầu của nó (gồm 16 nhịp 2/4 đầu tiên) đã được các nghệ nhân xưa điều chỉnh lại và chỉ dùng riêng cho ban nhạc lễ hòa tấu. Giai điệu này khác hẳn và không thể dùng để đệm cho làn điệu Tẩu mã trong ca Huế.

Phân tích nghệ thuật

• Đây là bài thứ mười trong 10 Bản Ngự (Thập thủ Liên hoàn, dân gian còn gọi là 10 Bản Tàu). Bài gồm có 68 nhịp 2/4 (theo nhạc lễ), hoặc là 136 nhịp ¼ (theo ca Huế) được thể hiện với hơi Bắc (hơi Khách) ở tốc độ hơi nhanh hoặc nhanh. Mỗi nhịp ứng với một tiếng gõ của cặp phách một, gõ ngay trên đầu mỗi phách của nhịp. Tính chất bài bản rộn ràng, nhộn nhịp, nghịch ngợm và pha chút vui vẻ.

Mô tả trình diễn

• Nhạc cụ: Dàn Tiểu nhạc gồm một số nhạc cụ sau: Tam (3 dây), Tỳ, Nhị, Nguyệt, Sáo. Ngoài ra, dàn Tiểu nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Phách một, Bồng, Tam âm, Trống bản..., trong bộ gõ này có một số nhạc cụ dùng cho cả dàn Đại nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp. • Nghệ nhân: - Đàn tam: Dương Phúc Long - Đàn Tỳ bà: Nguyễn Ngọc Hùng - Đàn Nguyệt: Nguyễn Đình Vân - Sáo Trúc: Nguyễn Quang Vịnh • Bài Tẩu mã được thể hiện bởi 2 nghệ sỹ Dương Phúc Long (đàn Tam), Nguyễn Quang Vịnh (Sáo trúc) và nghệ nhân Nguyễn Ngọc Hùng (đàn Tỳ Bà). Phân tích mỗi một bài bản, chúng tôi thấy có những ưu khuyết điểm sau: a. Nghệ sỹ Dương Phúc Long đã diễn tấu bài Tẩu mã bằng đàn Tam rất tốt và hoàn chỉnh. Đường nét giai điệu lưu loát, đảm bảo giống như sườn giai điệu gốc ở bài bản xưa và có đầy đủ số lượng nhịp cần thiết. b. Nghệ sỹ Nguyễn Quang Vịnh đã diễn tấu bài Tẩu mã bằng Sáo trúc khá tốt và hoàn chỉnh. Đường nét giai điệu lưu loát, gần giống như sườn giai điệu gốc ở bài bản xưa và có thừa số lượng nhịp cần thiết. Với bài bản này, chúng tôi đề nghị chỉnh sửa ba điểm như sau: - Nhịp 50 là nhịp dư thừa, nên xoá bỏ. - Xét về đường nét giai điệu, ở nhịp 62 nên diễn tấu chữ Liu (nốt Sol 2) thay cho chữ Họ (nốt Sol 1) như nghệ sỹ đã thể hiện. Hãy xem minh hoạ sau thì rõ: - Giai điệu và tiết tấu ở ba nhịp 88, 89 và 90 chưa đúng, nên thể hiện như sau: c. Nghệ nhân Nguyễn Ngọc Hùng đã diễn tấu bài Tẩu mã bằng đàn Tỳ bà một cách lưu loát đúng theo hơi nhạc, tốc độ cần có. Tuy đường nét giai điệu đủ nhịp như bài bản xưa nhưng theo chúng tôi, trong bài này nghệ nhân đã để lại một vài dấu ấn riêng. Nhìn chung, bài bản đàn thể hiện bởi các nghệ nhân, nghệ sĩ nói trên là đủ nhịp, giai điệu bám sát sườn bài xưa dành riêng cho nhạc lễ. Tuy vậy, chúng ta cần chú ý thực hiện đúng các điểm mấu chốt đã được trình bày để chỉnh sửa thay đổi cho các bài bản này được hoàn chỉnh hơn khi muốn sử dụng chúng. Từ đó, theo quan điểm của chúng tôi, các bài Tẩu mã của các nghệ nhân, nghệ sĩ nói trên có thể chọn làm các bài bản mẫu trong thời điểm hiện tại.

Lời nhạc

Trong 17 bài Tiểu nhạc thì một số bài có chức năng kép. Có nghĩa là, khi hòa tấu nó là bài bản Tiểu nhạc, khi biểu diễn Ca Huế thính phòng thì nhạc công dùng bài này đệm cho ca sĩ hát. Tẩu mã là bài bản có chức năng kép.