Tam luân cửu chuyển Đại nhạc
Hình thức: a
Lễ hội: Đăng quang
Ý nghĩa
Bài bản này thường được diễn tấu trong các đại lễ như: lễ tế Nam Giao, tế Miếu, tế Xã tắc, lế Đại Triều. Mục đích của bài này là báo cáo thần linh, xin phép chư vị thần linh và mời họ về tham gia chứng giám cho buổi lễ.
Phân tích nghệ thuật
• Cấu trúc: Bài thường được thực hiện với 2 trống, 2 kèn, 1 bồng và một mõ. Trống có vai trò rất quan trọng ở bài bản này. Nó theo suốt từ đầu đến cuối còn Kèn chỉ là phụ họa. Thời xưa, khi thể hiện bài Tam luân cửu chuyển thường có sự tham gia của chấp lệnh Chiêng và chấp lệnh Trống đại. Điều đó làm cho không khí buổi lễ thêm trang nghiêm, nghiêm túc, hoành tráng đồng thời nó thể hiện được sự đồng tâm nhất trí của những người thực hiện và tham dự lễ. Ngày nay, điều đó ít khi được thực hiện do phép đánh Chiêng và Trống đại trong bài Tam luân cửu chuyển đã bị mai một và thất truyền.
• Giai điệu: Bài được thể hiện theo tốc độ tự do, trang nghiêm, diễn tấu ở hơi Nam.
Mô tả trình diễn
• Nhạc cụ: Trống, Kèn là 2 nhạc cụ chính của tất cả các bài bản Đại nhạc. Ngoài ra, dàn Đại nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Xập xõa, Bồng..., các nhạc cụ bộ gõ này cũng được dùng cho dàn Tiểu nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp.
• Nghệ nhân:
- Kèn lỡ: Hồ Ái.
- Trống chiến: Nguyễn Đình Vân, Hồ Viết Định.
- Tam luân cửu chuyển được thể hiện bằng trống chiến của 2 nghệ nhân Nguyễn Đình Vân, Hồ Viết Định và kèn lỡ của nghệ nhân Hồ Ái. Riêng nghệ nhân Hồ Viết Định có thể hiện thêm một bài Tam luân cửu chuyển khác, bài này chỉ dùng mở đầu cho bài Thái Bình cổ nhạc. Tam luân cửu chuyển gồm nhiều phần như:
- Phần trống mở đầu: Được thực hiện 3 roi trống đánh bằng hai tay. Tiếp theo là 3 hồi trơn. Trong mỗi hồi trơn gồm 3 roi Cà-Ròng Tòong nhẹ nhàng và cuối cùng là đổ một hồi trống.
- Phần trống Luân và Chuyển:
+ Luân 1 và 3 Chuyển đầu tiên: Gồm 3 roi trống đánh bằng hai tay sau đó vê nhẹ guộn lên mạnh dần rồi từ từ chậm dần lại và kết thúc bằng roi Tòong. Tiếp sau Luân 1 là 3 Chuyển. Mỗi Chuyển là một hồi trống đổ bình thường bằng hai tay.
+ Luân 2 và 3 Chuyển giữa: Gồm 7 roi trống đánh bằng 2 tay sau đó là các roi Cà-Ròng Tòong nhẹ nhàng và đến 7 roi Tòong đơn rồi đổ hồi vê nhẹ guộn lên mạnh dần sau đó chậm dần lại và kết thúc bằng các roi Tòong, Cà-Rụp. Tiếp sau Luân 2 là 3 Chuyển. Mỗi Chuyển là một hồi trống đổ nhẹ nhàng bằng hai tay.
+ Luân 3 và 3 Chuyển cuối: Gồm 7 roi trống đánh bằng 2 tay sau đó là các roi Cà-Ròng Tòong nhẹ nhàng và đến 7 roi Tòong đơn rồi đổ hồi chậm dần và kết thúc bằng các roi Tòong, Cà-Rụp. Tiếp sau Luân 3 là 3 Chuyển cuối. Mỗi Chuyển là một hồi trống đổ nhẹ nhàng bằng hai tay.
- Hồi trống Qua Giang: Là phần chuyển tiếp sang các Hồi trống tế. Hồi Qua Giang cũng có thể được xem là phần kết thúc của Tam luân Cửu chuyển (khi không thực hiện lễ tế, sau hồi qua giang nhạc công sẽ không thực hiện 3 hồi trống tế).
- 3 Hồi trống Tế:
+ Hồi thứ nhất: nối tiếp hồi Qua giang là hồi trống tế thứ nhất gồm 10 roi Tòong đơn tiếp theo là các roi Cà-Ròng Tòong nhẹ nhàng rồi đổ hồi và kết thúc bằng một roi Tòong nhẹ nhàng.
- Phần Kèn:
+ Trong bài này kèn chỉ có chức năng hỗ trợ cho trống. Sau 3 roi trống đánh bằng hai tay ở đầu Luân 1, tiếp đến là 3 roi Tòong đơn rồi trống đổ hồi thì kèn thổi chữ Xê (nốt Rê 2) và ngân dài.
+ Sau 7 roi trống đánh bằng 2 tay ở đầu Luân 2, tiếp đến là các roi Cà-Ròng Tòong nhẹ nhàng và đến 7 roi Tòong đơn xong thì kèn thổi chữ Xang (nốt Đô 2 ) và ngân dài.
+ Sau 7 roi trống đánh bằng 2 tay ở Luân 3 đó là các roi Cà-Ròng Tòong nhẹ nhàng và đến 7 roi Tòong đơn xong thì kèn thổi chữ Xư (nốt Si 1 ) và ngân dài.
+ Sau 7 roi Cà-Ròng Tòong nhẹ và đến 7 roi Tòong đơn của Hồi Qua giang thì kèn thổi chữ Hò (nốt Sol 1 ) và ngân dài.
+ Sau 10 roi Tòong đơn và các roi Cà-Ròng Tòong của Hồi trống tế thứ nhất thì kèn thổi chữ Phan (nốt Fa 1 ) và ngân dài.
+ Sau 10 roi Tòong đơn và các roi Cà-Ròng Tòong của Hồi trống tế thứ hai thì kèn thổi chữ Phàn (nốt Mi1 ) và ngân dài.
+ Sau 10 roi Tòong đơn và các roi Cà-Ròng Tòong của Hồi trống tế thứ ba thì kèn thổi chữ Phạn (nốt Rê ) và ngân dài.
+ Đến khi trống đổ gần xong hồi tế thứ ba thì kèn thổi Hò và ngân dài (và đợi các roi trống báo hiệu chuyển vào bài Phát).
Lời nhạc
Tất cả các bài đại nhạc không có lời hát.