Phú lục Kèn Đại nhạc

Hình thức: a

Lễ hội: Đăng quang

Ý nghĩa

• Âm nhạc truyền thống Huế có rất nhiều bài Phú lục nên chúng ta cần lưu ý điểm này. Ví dụ: trong Ca Huế có bài Phú lục nhanh và chậm, hát tuồng Huế cũng có làn điệu Phú lục, bài bản tiểu nhạc có bài Phú lục địch... Bởi vậy, các nghệ nhân xưa đã gọi bài này là Phú Phú lục kèn của Đại nhạc để phân biệt với các bài bài Phú lục khác. • Đây là bài thứ 4 trong 5 bài kèn, bài này được sử dụng trong giai đoạn phân ban của lễ tế. Bài có thể diễn tấu độc lập hoặc kết hợp với các bài khác với tốc độ vừa phải, diễn tả ý nghĩa phong phú và hưng thịnh trong cuộc sống.

Phân tích nghệ thuật

• Giai điệu và cấu trúc: Bài Kèn: gồm 27 nhịp C cơ bản, chia thành 2 phần chính: sáp trống và sáp mái. - Sáp trống: Giai điệu kèn thường lên cao vào cuối (từ nhịp 21 đến nhịp 27). - Sáp mái: Giai điệu kèn thường xuống thấp ở đoạn cuối. Cả hai sáp này có sự khác biệt rõ rệt ở 5 nhịp cuối. • Phần sau đoạn chính, các nghệ nhân có thể lặp lại 8 nhịp kèn mà không bị giới hạn, cho phép sự sáng tạo và biến hóa tùy theo ý thích của người thổi kèn. • Bài Trống: Mặc dù kèn có thể tự do lặp lại đoạn nhạc của mình, nhưng luôn phải tuân theo sự điều khiển của trống, đảm bảo sự hòa hợp trong quá trình diễn tấu.

Mô tả trình diễn

• Nhạc cụ: Trống, Kèn là 2 nhạc cụ chính của tất cả các bài bản Đại nhạc. Ngoài ra dàn Đại nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Xập xõa, Bồng..., nhạc cụ bộ gõ này cũng được dùng cho dàn tiểu nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp. • Nghệ nhân: - Kèn lỡ: Hồ Ái. - Trống chiến: Nguyễn Đình Vân, Huỳnh Đức Tiễn. • Trước khi vào nội dung chính của bài các nghệ nhân thường thổi dạo một đoạn nhịp 2/4, mỗi nhịp ứng theo một tiếng mõ ngay đầu phách của nhịp. • Về cơ bản, phần chính của bài này có 27 nhịp C (trường hợp có lặp lại). Nếu không lặp lại thì bài này chỉ có 25 nhịp. - Bài Kèn: Sau khi vào bài được 8 nhịp thì 8 nhịp tiếp theo Kèn có thể thổi lặp lại bao nhiêu lần tùy thích. Tuy nhiên, khi Kèn ra tiếp đoạn sau thì phải tuân thủ theo sự điều khiển củaTrống. - Bài Trống: Trống Phú lục cũng gồm 2 phần: Phần dạo và phần bài bản. - Phần dạo là 4 nhịp ¼ dùng để giúp cho nhạc công Kèn tự xác định tốc độ. - Từ nhịp 5 trở đi, cả Trống và Kèn cùng thể hiện một đoạn nhạc dạo theo nhịp ¼, mỗi nhịp ứng theo một tiếng mõ ngay đầu phách của nhịp. Đoạn nhạc này thông thường là 28 nhịp ¼ hoặc dài hơn, 8 nhịp cuối cùng Trống dùng để ra lệnh, báo hiệu cho Kèn chuyển vào bài bằng âm vang xáo động của các roi Cà – Rang, Tang kết hợp xen lẫn với Cắc. - Trống có vai trò rất quan trọng, không chỉ giúp xác định tốc độ cho kèn mà còn điều phối các chuyển tiếp giữa các phần của bài nhạc. - Tuy có nhiều nghệ nhân thể hiện hai nhạc cụ này, nhưng sau khi tìm hiểu, phân tích thì chúng tôi quyết định chọn bài Kèn của nghệ nhân Hồ Ái, vì nó bám rất sát với sườn bài của nghệ nhân Trần Kích. Phần Trống chúng tôi chọn bài của nghệ nhân Nguyễn Đình Vân thể hiện. Bài trống Phú lục của nghệ nhân Nguyễn Đình Vân được cho là mẫu tiêu biểu nhất hiện nay, bám sát với sườn bài cổ của cố nghệ nhân Trần Kích, thể hiện tính chuyên nghiệp và đúng phong cách truyền thống của nhạc lễ Huế.

Lời nhạc

Tất cả các bài bản Đại Nhạc không có lời hát.