Ngủ đối thượng Đại nhạc
Hình thức: a
Lễ hội: Các lễ hội của làng xã
Ý nghĩa
• Ngày xưa, Ngũ đối thượng là bài đầu tiên trong nhóm hòa tấu 5 bài Ngự (Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long ngâm, Long đăng, Tiểu khúc) được phối hợp sử dụng trong giai đoạn niêm hương của đại lễ Tế Nam Giao, lễ Trai đàn chẩn tế trong cung đình. Ngoài ra, nó còn được dùng trong các buổi lễ tiếp sứ thần ngoại giao, lễ Đại Triều, yến tiệc cung đình. Ngày nay, bài bản này chỉ được hoà tấu theo nhóm 5 bài Ngự dùng trong đại lễ Chẩn tế và Bạt độ giải oan. Đôi khi bài bản này còn được dùng độc lập để hòa tấu.
Phân tích nghệ thuật
• Đây là bài đầu tiên trong nhóm hòa tấu 5 bài Ngự (Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long ngâm, Long đăng, Tiểu khúc). Bài gồm có 61 nhịp C được thể hiện với tốc độ chậm rãi, vừa phải. Mỗi nhịp ứng với một tiếng gõ của cặp phách một, gõ ngay trên đầu mỗi phách của nhịp. Bài thường được diễn tấu với hơi Bắc (hơi Khách), đôi chỗ có pha chút hơi Thiền. Tính chất bài bản trang nghiêm, thành kính.
Mô tả trình diễn
• Nhạc cụ: Dàn Tiểu nhạc gồm một số nhạc cụ sau: Tam (3 dây), Tỳ, Nhị, Nguyệt, Sáo. Ngoài ra, dàn Tiểu nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Phách một, Bồng, Tam âm, Trống bản..., trong bộ gõ này có một số nhạc cụ dùng cho cả dàn Đại nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp.
• Nghệ nhân:
- Đàn Tam: Dương Phúc Long
- Đàn Tỳ bà: Nguyễn Ngọc Hùng
- Đàn Nguyệt: Nguyễn Đình Vân
- Đàn Nhị: Hồ Ái
• Bài Ngũ đối thượng được thể hiện bởi 2 nghệ sỹ Dương Phúc Long (đàn Tam), Hồ Ái (đàn Nhị) và 2 nghệ nhân Trần Thảo (đàn Nhị), Nguyễn Ngọc Hùng (đàn Tỳ Bà). Qua phân tích từng bài, chúng tôi thấy có những vấn đề như sau:
a. Nghệ sỹ Dương Phúc Long đã diễn tấu bài Ngũ đối thượng bằng đàn Tam khá tốt và hoàn chỉnh. Đường nét giai điệu lưu loát, đảm bảo giống như sườn giai điệu gốc ở bài bản xưa và có đầy đủ số lượng nhịp cần thiết. Tuy đường nét giai điệu đủ nhịp như bài bản xưa nhưng theo chúng tôi, trong bài này nghệ nhân đã để lại một vài dấu ấn riêng khi thể hiện giai điệu bài bản.
b. Nghệ sỹ Hồ Ái đã diễn tấu bài Ngũ đối thượng bằng đàn Nhị rất tốt và hoàn chỉnh. Đường nét giai điệu lưu loát, đảm bảo giống như sườn giai điệu gốc ở bài bản xưa và có đầy đủ số lượng nhịp cần thiết. Tuy vậy, theo chúng tôi, trong bài này nghệ sỹ đã để lại một vài dấu ấn riêng khi thể hiện giai điệu bài bản.
c. Nghệ nhân Trần Thảo đã diễn tấu bài Ngũ đối thượng đàn Nhị khá tốt và hoàn chỉnh. Đường nét giai điệu lưu loát, đảm bảo giống như sườn giai điệu ở bài bản xưa và có đầy đủ số lượng nhịp cần thiết. Tuy vậy, theo chúng tôi, có ba vị trí làm đường nét giai điệu của bài thiếu sức hấp dẫn người nghe nên chỉnh sửa lại.
d. Nghệ nhân Nguyễn Ngọc Hùng đã diễn tấu bài Ngũ đối thượng bằng đàn Tỳ bà một cách lưu loát đúng theo hơi nhạc, tốc độ cần có. Tuy giai điệu bài bản có đủ nhịp như bài bản xưa nhưng theo chúng tôi, trong bài này nghệ nhân đã để lại một vài dấu ấn riêng khi tìm cách tiến hành lưu loát giai điệu bài bản.
Nhìn chung, bài bản đàn thể hiện bởi nghệ sĩ nói trên là đủ nhịp, giai điệu bám sát sườn bài xưa dành riêng cho nhạc lễ. Tuy vậy, chúng ta cần chú ý các điểm mấu chốt đã được trình bày để chỉnh sửa thay đổi cho những bài bản này được hoàn chỉnh hơn khi muốn sử dụng chúng. Từ đó, theo quan điểm của cá nhân có chuyên môn thực hiện đề tài, chúng tôi chọn 3 bài sau để làm bài bản mẫu trong thời điểm hiện tại:
- Bài Ngũ đối thượng thể hiện bằng đàn Tam của nghệ sĩ Dương Phúc Long.
- Bài Ngũ đối thượng thể hiện bằng đàn Nhị của nghệ sĩ Hồ Aí.
- Bài Ngũ đối thượng thể hiện bằng đàn Tỳ bà của nghệ sĩ Nguyễn Ngọc Hùng.
Lời nhạc
Trong 17 bài Tiểu nhạc thì một số bài có chức năng kép. Có nghĩa là, khi hòa tấu nó là bài bản Tiểu nhạc, khi biểu diễn Ca Huế thính phòng thì nhạc công dùng bài này đệm cho ca sĩ hát. Ngũ đối thượng là bài bản chỉ dùng để hòa tấu.