Lưu thủy Đại nhạc
Hình thức: a
Lễ hội: Các lễ hội của làng xã
Ý nghĩa
• Ngày xưa, bài bản này thường được dùng để thỉnh linh (trong các lễ kỵ giỗ, lễ tế), hoặc dùng khi thỉnh thập loại cô hồn trong đại lễ Trai đàn chẩn tế. Đây cũng là bài đầu tiên trong nhóm 4 bài (Lưu thủy, Kim tiền, Xuân phong, Long hổ) dùng để hòa tấu mở đầu trong chương trình ca Huế nhằm mục đích để cho các nghệ sĩ chỉnh dây đàn và xác định bậc Hò cho giọng ca nói riêng, buổi biểu diễn nói chung.
Phân tích nghệ thuật
• Giai điệu bài bản gồm 32 nhịp C được thể hiện với hơi Bắc (hơi Khách) ở tốc độ vừa phải. Mỗi nhịp ứng với một tiếng gõ của cặp phách một ngay trên phách thứ nhất của nhịp. Bài có giai điệu, nhẹ nhàng và trữ tình.
Mô tả trình diễn
• Nhạc cụ: Dàn Tiểu nhạc gồm một số nhạc cụ sau: Tam (3 dây), Tỳ, Nhị, Nguyệt, Sáo. Ngoài ra, dàn Tiểu nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Phách một, Bồng, Tam âm, Trống bản..., trong bộ gõ này có một số nhạc cụ dùng cho cả dàn Đại nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp.
• Nghệ nhân:
- Đàn tam: Dương Phúc Long
- Bài Lưu thủy đàn Tam được thể hiện độc lập bởi nghệ sỹ Dương Phúc Long với 32 nhịp C, đủ nhịp, giai điệu bám sát sườn bài xưa. Tuy vậy, trong bài vẫn có dấu ấn riêng do nghệ sỹ để lại ở hai vị trí: Ở hai phách cuối của các nhịp 15 và 19, các chữ nhạc theo giai điệu xưa là Xê Xàng xự Xàng (lần lượt tương ứng với các nốt móc đơn Rê 2, Do 2, La 1 và Do 2), các chữ nhạc nghệ nhân đã thể hiện là không đúng, cần chỉnh sửa lại.
Lời nhạc
Trong 17 bài Tiểu nhạc thì một số bài có chức năng kép. Có nghĩa là, khi hòa tấu nó là bài bản Tiểu nhạc, khi biểu diễn Ca Huế thính phòng thì nhạc công dùng bài này đệm cho ca sĩ hát. Kim tiền là bài bản có chức năng kép.