Kèn Chiến Đại nhạc
Hình thức: a
Lễ hội: Đăng quang
Ý nghĩa
• Là bài Đại nhạc thứ 4 trong 5 bài kèn. Bài Kèn Chiến gồm có 50 nhịp 2/4 được tấu lên sau bài Xàng xê để quan khách tiếp tục vào hành lễ sau khi Chánh bái và một vài vị khách quan trọng hành lễ xong.
Phân tích nghệ thuật
• Giai điệu và cấu trúc: Bài Chiến gồm 50 nhịp 2/4, được chia thành nhiều phần theo từng mức độ tốc độ.
• Nếu diễn tấu ở tốc độ vừa phải, bài mang tính chất trang trọng, thường được sử dụng lúc con Rùa (Quy) xuất hiện trong màn múa Tứ linh. Khi diễn tấu với tốc độ nhanh vừa, bài tạo ra sự sống động, lôi cuốn, mạnh mẽ dùng để thay đổi đội hình múa, dành cho vai múa Hổ (trong điệu múa Long Hổ hội) hoặc lúc ra quân hay xông trận chiến đấu.
Mô tả trình diễn
• Nhạc cụ: Trống, Kèn là 2 nhạc cụ chính của tất cả các bài bản Đại nhạc. Ngoài ra, dàn Đại nhạc còn có một số nhạc cụ bộ gõ đi kèm như: Phách tiền, Xập xõa, Bồng..., nhạc cụ bộ gõ này cũng được dùng cho dàn tiểu nhạc. Tuy nhiên, tùy vào từng bài bản để nghệ nhân sử dụng bộ gõ cho phù hợp.
• Nghệ nhân:
- Kèn lỡ: Nguyễn Quang Vịnh, Trương Cảnh Hùng.
- Trống chiến: Hồ Đăng Châu.
• Bài được thể hiện với kỹ thuật kèn đặc trưng, bao gồm cả việc sử dụng mõ đánh theo từng phách. Những lỗi trong quá trình biểu diễn như thay đổi cao độ không chính xác (như chuyển chữ Phàn thành Phan), và hiện tượng lệch chữ nhạc (ví dụ như chữ Hò bị diễn tấu thành Liu) cũng có thể xuất hiện, do thói quen hoặc điều kiện thời tiết.
• Bài Kèn Chiến thể hiện bởi các nhạc công kèn và trống, trong đó nghệ nhân Trương Cảnh Hùng đã thể hiện bài kèn Chiến ở tốc độ nhanh, bám sát vào sườn cổ nhưng có thêm một số điểm thay đổi. Tuy nhiên, hiện nay hiếm có nghệ nhân nào thực hiện được mô-tip mà cố nghệ nhân Trần Kích thường thể hiện khi hành nghề lúc sinh thời. Mô-tip đó gần như đã thất truyền, các chữ nhạc chỉ còn lưu lại trong cuốn Tư liệu âm nhạc cung đình Việt Nam của Giáo sư T.S Tô Ngọc Thanh và cuốn Âm nhạc cổ truyền Quảng Trị.
Lời nhạc
Tất cả các bài bản Đại Nhạc không có lời hát.