Bộ dây
Đàn Nhị Hồ
Giới thiệu
Đàn Nhị Hồ là loại nhạc khí thuộc hệ dây kéo bằng cung vĩ, có hai dây, làm bằng gỗ cứng, du nhập vào Việt Nam từ đời xa xưa, do người Việt tự sáng tạo, cải tiến thành đàn Việt, mang âm sắc Việt, để sử dụng trong các lễ hội dân gian, phong tục, tín ngưỡng. Đàn Nhị Hồ là nhạc khí biên chế trong các dàn Nhã nhạc của các triều đại vua chúa Việt Nam, phát triển mạnh dưới thời Nguyễn (1802-1945)
Hình thức cấu tạo
* Cần đàn Nhị Hồ cao khoảng 75cm, thủ đàn cong như cổ cò, cần đàn được cắm xuyên qua bát nhị hồ, gần với mặt da. Bát nhị hồ (bầu cộng hưởng), một mặt được bịt bằng da trâu. * Đàn Nhị Hồ gồm có những bộ phận sau. - Bát Nhị hồ: Dài khoảng 12.5 đến 13cm, Làm bằng gỗ Trắc, bát nhị rỗng, đường kính phía miệng loa 11cm, đường kính của mặt da 10 đến 10,5cm, trên bát nhị có cẩn xà cừ. - Cần đàn: Làm bằng gỗ Trắc, có chiều dài khoảng 75cm. Tính từ góc đến phía thủ đàn khoảng 46,5cm có hình trụ, đường kính khoảng 1,5cm, phần còn lại đến thủ đàn có hình vuông, riêng thủ đàn có hình hơi dẹt, được uốn cong như mỏ cò. Dưới thủ đàn tạo hai lỗ để gắn hai trục căng dây. Trục căng dây có cạnh hình quả khế chiều dài khoảng 15cm. Cần đàn Nhị không gắn phím, hai bên cần đàn được trang trí bằng hai đường chỉ xà cừ. - Cung vĩ: Cung vĩ đàn ngày xưa được làm bằng tre vòi già hoặc gỗ uốn hình cánh cung. cung có đường kính khoảng 0,6cm, Vĩ đàn được kết từ lông đuôi ngựa, căng vào cung tạo thành cung vĩ. Chiều dài cung vĩ tương đương với cần đàn, nằm ở vị trí giữa hai dây đàn để kéo, đẩy, cọ sát vào dây đàn, tạo ra âm thanh. Cung vĩ hiện nay được thay thế tựa cung vĩ violon. - Ngựa đàn: Làm bằng tre hoặc gỗ, dài khoảng 1,5cm, cao 1cm, đặt khoảng giữa mặt da. - Dây đàn, khuyết đàn: Đàn Nhị Hồ có hai dây không bằng nhau. Trước đây, dây đàn được xe bằng dây tơ. Ngày nay, dây đàn thay bằng dây ni lông. Khuyết đàn (nơ đàn) ngày xưa cũng được làm bằng dây tơ, quấn vòng vào dây đàn và cần đàn, được thắt theo kiểu cái nơ, có chức năng điều chỉnh cao độ trong khi diễn tấu.
Vị trí & chức năng
Đàn Nhị Hồ giữ vai trò chủ đạo về giai điệu của bè trầm trong các dàn Nhã nhạc, ca xướng cung đình, biểu hiện màu âm đặc trưng trong các thể loại bài bản. - Trong hoà tấu, Đàn Nhị Hồ thường đi giai điệu, thấp hơn các nhạc cụ khác một quãng tám (một bát độ).
Tính năng kỹ thuật
Âm sắc: Đàn Nhị Hồ có âm sắc mượt mà, trầm ấm khi thể hiện hơi khách, hơi xuân. Âm thanh mềm mại, trử tình, bi thương khi thể hiện hơi ai, hơi oán. Trong dàn nhạc Đàn Nhị Hồ giữ phần giai điệu bè trầm. Đàn Nhị Hồ có nhiều cách lên dây, mỗi cách lên dây có mỗi âm vực nhất định. Trong nội dung này, chúng tôi xin được giới thiệu âm vực của hai hệ thống lên dây dùng trong Nhã nhạc và ca cổ Cung đình. - Kỹ thuật diễn tấu: Khi sử dụng đàn Nhị hồ ở tư thế ngồi, nhạc công dùng hai dùi vế, kẹp nữa miệng bát nhị hồ, giúp tư thế của đàn không bị nghiêng ngã khi sử dụng và hạn chế về âm lượng để cho tiếng đàn được mềm mại hơn. - Kĩ thuật tay phải: Dùng cung vĩ kéo ra, đẩy vào để tạo âm thanh. - Kĩ thuật tay trái: Vuốt lên, vuốt xuống, nhấn rung chậm, nhấn rung vỗ, ngón vỗ, nhấn nhá khi diễn tấu hơi ai, hơi oán. Vuốt lên, vuốt xuống, nhấn rung nhanh, nhấn rung sâu, ngón láy ngón láy vỗ khi diễn tấu hơi khách, hơi xuân.