Hồ Viết Châu
Hồ Đăng Châu
Năm sinh: 1943
Quê quán: Làng Thủ Lễ, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Hoạt động nghệ thuật
Trong và ngoài nước
Thế hệ nghệ nhân
2
Những nơi lưu diễn
* Trong nước:
- Huế, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Nha Trang, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh.
- Nước ngoài:
- Năm 1995: Biểu diễn âm nhạc cung đình tại Pháp và Thụy Sĩ.
- Năm 1998: Biểu diễn âm nhạc cung đình tại Pháp.
- Năm 1999: Biểu diễn âm nhạc cung đình tại 3 nước Hà Lan,Luxembourg, Bỉ.
- Năm 2001: Biểu diễn âm nhạc cung đình tại Pháp, Nhật.
- Năm 2002: Biểu diễn âm nhạc cung đình tại Pháp.
Học loại hình nghệ thuật
Nhạc lễ cung đình Huế, âm nhạc Phật giáo, ca Huế, nhạc thầy Pháp, nhạc Tuồng.
Sử dụng nhạc cụ
Trống, Đàn Nhị, Tam âm, Trống Bản, Mõ, Bạt, Sanh Tiền.
Người dạy
Hồ Đăng Khách (bố đẻ) dạy sanh tiền, thầy Nguyễn Hữu Hòa dạy Trống, thầy Nguyễn Ngọc Cộng dạy trống Bản.
Bí quyết nghề nghiệp
Nghệ nhân Hồ Đăng Châu là người có khả năng sử dụng phách tiền điêu luyện.
Thể hiện bài bản
* Tiểu nhạc:
Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, Thập thủ liên hoàn, Long Ngâm, Long Đăng, Tiểu Khúc...
* Đại nhạc:
Đăng Đàn Cung, Đăng Đàn Chạy, Đăng Đàn Kép, Đăng Đàn Nhanh, Đăng Đàn Chậm, Đăng Đàn Đơn, Xàng Xê, Kèn Chiến, Tẩu Mã, Cung Bằng,, Nam Ai, Phú Lục (Kèn), Nam Bằng, Bông, Mã Vũ, Mang, Phần Hóa, Tam Luân Cửu Chuyển, 3 Hồi Kèn, Dạo Khách, Dạo Nam, Cung Ai, Thoét, Lở, Xuân Nữ, Kèn Bóp...
Giai thoại kỷ niệm
Không
Truyền thống gia đình
Ngoài bố đẻ của nghệ nhân là ông Hồ Đăng Khách, thế hệ kế tục còn có con trai là Hồ Định theo nghề.
Thế hệ kế tục
Con trai: Hồ Định.
Sinh năm: 1973
Sở trường: Nhạc lễ cung đình Huế, Ca Huế, nhạc Thầy Pháp, âm nhạc Phật giáo, Nhạc Tuồng.
Sử dụng nhạc cụ: Trống, Đàn Nhị, Tam âm, Trống Bản, Mõ, Bạt, Sanh Tiền.
Đóng góp truyền dạy
Năm 2004 - đến nay: Được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế mời tham gia dạy thực hành nhạc cụ cho các nhạc công tại Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình
Danh hiệu giải thưởng
Không